• This is Slide 1 Title

    This is slide 1 description. Go to Edit HTML and replace these sentences with your own words. This is a Blogger template by Lasantha - PremiumBloggerTemplates.com...

  • This is Slide 2 Title

    This is slide 2 description. Go to Edit HTML and replace these sentences with your own words. This is a Blogger template by Lasantha - PremiumBloggerTemplates.com...

  • This is Slide 3 Title

    This is slide 3 description. Go to Edit HTML and replace these sentences with your own words. This is a Blogger template by Lasantha - PremiumBloggerTemplates.com...

Chủ Nhật, 25 tháng 10, 2015

Đặc Sản Quýt Văn Lý, Lý Nhân

Lý Nhân, Hà Nam là một huyện nằm ven sông Hồng, được phù sa của con sông bồi đắp nên có đất đai màu mỡ.Nơi đây nổi tiếng với nhiều loại đặc sản từ cá tôm, đến các loại trái cây như hồng, cam, nhãn, quýt. Trong đó, hương vị ngọt ngào của quýt Lý Nhân (còn gọi là quýt hương, quýt Văn Lý... ) vẫn được nhắc mãi.

Khác với các giống quýt của các địa phương khác, quýt Lý Nhân có quả dẹt, vỏ mỏng và giòn. Khi quýt chín, vỏ màu vàng ươm, có nhiều tia tinh dầu li ti ở trên bề mặt. Bóc quýt, vỏ sẽ cho một hương thơm rất đặc trưng.

Quýt Lý Nhân là một loại trái cây có giá trị dinh dưỡng cao chứa nhiều vitamin C giúp vết thương mau lành, làm cho da lâu già, ngăn quá trình lão hóa, riêng vỏ quýt còn được dùng làm thuốc chữa bệnh (có tên gọi trần bì- Citrus reticulata, thanh bì,...) và làm tăng hương vị của món chả rươi.
Quýt Văn Lý, Lý Nhân, Hà Nam

Khi ăn, quýt có vị ngọt, thơm, ngon. Có lẽ hương vị đặc biệt và chất lượng hơn hẳn các loại quýt khác nên quýt Lý Nhân rất được ưa chuộng. Quýt Văn Lý đã từng nổi tiếng khắp nơi không những trong nước mà còn được xuất khẩu ra thị trường thế giới. Vào những năm 1960- 1970, quýt Văn Lý đã được xuất khẩu sang Liên Xô và một số nước Đông Âu cũ.

Quýt Lý Nhân đặc sản Hà Nam là một loại cây ăn quả đặc sản của xã Văn Lý đã có từ hàng trăm năm nay. Đây từng là vật phẩm dùng để cung tiến lên vua dưới chế độ phong kiến xưa nên còn được gọi là quýt tiến, cùng với giống chuối Ngự của làng Đại Hoàng (xã Hoà Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam).

Đã từng có thời kỳ quýt gần như tuyệt chủng trên vùng đất này vì sâu bệnh. Ngày nay, quýt Lý Nhân đang được ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nam phối hợp với một số Viện khoa học lập dự án bảo tồn và phát triển giống quýt quý hiếm này. Diện tích vườn quýt dần được khôi phục về thuở vàng son.

Hà Nam vẻ đẹp đồng chiêm

VỀ HÀ NAM
Nơi đây ngã ba sông,
Em đưa anh về gặp câu thơ Nguyễn Khuyến
Bãi mía nương dâu mượt mà trong nắng
Xi măng Bút Sơn bừng sáng những công trình
Quê mình đó anh ơi
Bình Lục, Thanh Liêm, Lý Nhân, Kim Bảng
Duy Tiên, Núi Đọi dạt dào sông Châu
Đất trũng đồng chiêm lên xanh mùa lúa
Những con người chân chất thủy chung
Nhớ mãi năm xưa trên đường ra trận
Đất nước đi qua Phủ Lý túi bom
Dẫu cuộc đời chìm trong đổ nát
Còn trái tim đây rực sáng soi đường
Hà Nam hôm nay, bừng lên sức sống
Con đường đổi mới, rộng mở thênh thang
Quê mình đó Hà Nam kiên cường
Em đón anh về
Hà Nam quê em

Cách đây 225 triệu năm toàn bộ vùng đất của Hà Nam, Nam Định, Thái Bình và Ninh Bình còn nằm sâu dưới đáy biển. Cuối kỷ Jurat hay đầu kỷ Bạch phấn, một vận động tạo sơn đã tạo nên vùng đá vôi của 3 tỉnh Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình hiện nay. Đa số các núi đá phân bố dọc hữu ngạn sông Đáy, có rất ít ngọn nằm ở tả ngạn.
Khoảng 70 triệu năm trước đây, chế độ biển kết thúc, thay thế là một quá trình bồi tụ để hình thành đồng bằng cổ. Phù sa mới và việc hình thành đồng bằng trên cơ sở tạo nên vùng đất thấp là trầm tích trẻ nhất châu thổ Bắc bộ. Hà Nam là vùng đất được bồi đắp bởi phù sa của sông Hồng, sông Đáy và thu nhận đất đai bị bào mòn từ vùng núi cao trôi xuống. Ngoài những ngọn núi, Hà Nam còn được bao bọc bởi những con sông. Đó là sông Hồng ở phía Đông, sông Đáy ở phía Tây, sông Nhuệ ở phía Bắc, sông Ninh ở phía Nam và nhiều con sông khác chảy trong tỉnh. Chính những điều kiện tự nhiên đã tạo cho vùng đất này các đặc trưng về văn hóa lịch sử của một khu vực giao thoa hay vùng đệm kết nối văn hóa từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam và chính những đặc điểm này đã hình thành nên tính cách của người Hà Nam trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.



Theo kết quả khảo cổ thì người nguyên thuỷ đã xuất hiện ở Hà Nam trên dưới 1 vạn năm vào buổi đầu thời kỳ đồ đá mới và đồ gốm thuộc nền văn hóa Hoà Bình, văn hóa Bắc Sơn. Cũng có thể do sự bùng nổ dân số từ sơ thời kỳ đại kim khí nên bắt đầu đã có cư dân xuống trồng lúa nước ở vùng chiêm trũng. Họ được xem như những người tiên phong khai thác châu thổ Bắc bộ.




Từ thời các vua Hùng, đất Hà Nam ngày nay nằm trong quận Vũ Bình thuộc bộ Giao Chỉ; đến thời nhà Trần đổi là châu Lỵ Nhân, thuộc lộ Đông Đô. Dưới thời Lê vào khoảng năm 1624, Thượng thư Nguyễn Khải đã cho chuyển thủ phủ trấn Sơn Nam từ thôn Tường Lân huyện Duy Tiên phủ Lỵ Nhân đến đóng ở thôn Châu Cầu thuộc tổng Phù Đạm, huyện Kim Bảng, phủ Lỵ Nhân, trấn Sơn Nam Thượng. Đến năm 1832 nhà Nguyễn, vua Minh Mạng quyết định bỏ đơn vị trấn thành lập đơn vị hành chính tỉnh, phủ Lỵ Nhân được đổi là phủ Lý Nhân thuộc tỉnh Hà Nội.
Đến tháng 10 năm 1890 (đời vua Thành Thái năm thứ 2) tỉnh Hà Nam được thành lập từ các huyên của Hà Nội và Nam Định. Tên tỉnh Hà Nam ra đời từ chữ Hà của Hà Nội và chữ Nam của Nam Định ghép lại và Phủ Lý trở thành tỉnh lỵ của tỉnh. Ngày 20/10/1908, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định đem toàn bộ phủ Liêm Bình và 17 xã của huyện Vụ Bản và Thượng Nguyên (phần nam Mỹ Lộc) của tỉnh Nam Định, cùng với 2 tổng Mộc Hoàn, Chuyên Nghiệp của huyện Phú Xuyên (Hà Nội), nhập vào huyện Duy Tiên lập thành tỉnh Hà Nam. Tháng 4 năm 1965, Hà Nam được sáp nhập với tỉnh Nam Định thành tỉnh Nam Hà. Tháng 12 năm 1975, Nam Hà sáp nhập với Ninh Bình thành tỉnh Hà Nam Ninh, năm 1992 tỉnh Nam Hà và tỉnh Ninh Bình lại chia tách như cũ. Tháng 11 năm 1996, tỉnh Hà Nam được tái lập.

Thứ Ba, 20 tháng 10, 2015

Nguồn Gốc, Ý Nghĩa Của lá cờ đỏ sao vàng


  • Lịch sử lá quốc kỳ Việt Nam
    Lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện lần đầu tiên trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ chống thực dân Pháp (23-11-1940). Tác giả sáng tạo ra lá cờ nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh này là đồng chí Nguyễn Hữu Tiến (sinh ngày 5-3-1901 tại Hà Nam. Tâm huyết của tác giả khi sáng tạo ra lá cờ Tổ quốc được khắc họa rõ nét trong bài thơ của ông
    Hỡi những ai máu đỏ da vàng
    Hãy chiến đấu dưới cờ thiêng Tổ quốc
    Nền cờ thắm máu đào vì nước
    Sao vàng tươi, da của giống nòi
    Đứng lên mau hồn nước gọi ta rồi
    Hỡi sỹ nông công thương binh
    Đoàn kết lại như sao vàng năm cánh.

  • Tháng 5-1941 tại Khui Nậm, Cao Bằng, Lãnh tụ Hồ Chí Minh chủ trì hội nghị Trung ương VIII quyết định thành lập tổ chức Việt Nam độc Lập đồng minh - đoạn mở đầu chương trình Việt Minh ghi rõ: "Sau khi đánh đuổi đế quốc Pháp, Nhật, sẽ lập nên Chính phủ nhân dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, lấy cờ đỏ sao vàng 5 cánh làm Quốc kỳ". Đây là văn bản đầu tiên, chính thức quy định Quốc kỳ của nước Việt Nam là cờ đỏ sao vàng.
    Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Quốc hội khóa đầu tiên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 đã ghi vào Hiến pháp: "Quốc kỳ Việt Nam dân chủ cộng hòa hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh".
    Sau ngày 30-4-1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, non sông Việt Nam đã liền một dải. Từ ngày 24-6 đến 3-7-1976, Quốc hội nước Việt Nam thống nhất họp tại Thủ đô Hà Nội, đã thông qua nhiều Nghị quyết quan trọng, trong đó công nhận Lá cờ đỏ sao vàng là Quốc kỳ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
  • 2
    Ý nghĩa của Lá cờ đỏ sao vàng
    Nền đỏ tượng trưng cho cách mạng, màu vàng là màu truyền thống tượng trưng cho dân tộc Việt Nam, và năm cánh sao tượng trưng cho năm tầng lớp sĩ, nông, công, thương, binh cùng đoàn kết trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.
    Lá cờ đỏ sao vàng năm cánh - đó là hồn nước, là niềm tự hào, là biểu tượng thiêng liêng bất khả xâm phạm của bản sắc dân tộc Việt Nam.

Thứ Năm, 15 tháng 10, 2015

Ẩm Thực Hà Nam - Chuối tiến Vua

Về Hà Nam không ai là không muốn được đặt chân tới làng Đại Hoàng với rất nhiều đặc sản nổi tiếng. Đại Hoàng ngoài đặc sản là cá kho làng Vũ Đại, hồng không hạt, còn có một đặc sản nổi tiếng lâu nay  và  đã từng sản vật tiến Vua đó là Chuối Ngự.
Chuối tiến Vua hay còn được gọi là chuối ngự có màu vàng tươi đẹp mắt
Chuối tiến Vua hay còn được gọi là chuối ngự có màu vàng tươi đẹp mắt
Chuyện kể rằng vào thời nhà Trần,hàng năm Vua Trần cùng đoàn tuỳ tùng và các văn võ bá quan  xuôi thuyền từ Thăng Long về hành cung Thiên Trường để yết kiến Thái Thượng Hoàng. Trong một lần nọ khi đi đến ngã 3 Tuần Vường, đoàn rước của nhà Vua dừng lại, dân các làng đổ ra mừng đón và ai cũng mang của ngon, vật lạ ra dâng tiến lên đức Vua. Lúc đó, có một đôi vợ chồng nghèo ở làng Đại Hoàng không có vật gì quý giá để dâng tiến nên rất lấy làm băn khoăn. Vừa may  trong vườn có một buồng chuối chín vàng tươi, quả nhỏ xinh xắn và toả hương thơm ngan ngát, họ bèn chặt hạ buồng chuối đó để dâng lên đức vua với lòng chân thành và sự cung kính.
Chuối ngự
Chuối Tiến vua vàng ươm, căng tròn , bóng mịn
Khi trông thấy một buồng chuối nhỏ quả căng tròn, bóng mịn, vàng óng, cuống xanh, đầu có 3 chiếc tua cong đẹp mắt lạ thường…vua liền cho gọi vợ chồng người nông dân nghèo tiến lại gần. Nhà Vua bèn nếm thử, thấy vị ngọt, thơm và càng ăn càng thấy ngon. Vua hết lời khen ngợi và ban thưởng cho vợ chồng người nông dân nghèo và truyền lệnh cho dân làng Đại Hoàng nhân rộng loại chuối này để cho thần dân khắp nơi cùng thưởng thức.
Từ đó loại chuối nhỏ xinh xắn này ở Đại Hoàng được mang tên Chuối Ngự hay còn gọi là chuối tiến Vua đã được lưu truyền đến ngày nay và trở thành đặc sản nổi tiếng khắp nơi.

Thứ Ba, 13 tháng 10, 2015

Hà Nam ngày mùa

Trời thu khí trời se se lạnh, nhớ về quê hương trong cái tâm thức hàng năm vào những buổi này ra đồng sớm tối. Trên con đường làng vàng óng những cọng rơm mới gặt, thoang thoảng mùi thơm của lúa mới, cảm giác quen thuộc lâu lắm rồi. Một cái gì  như vừa mới hôm qua còn nâng niu trên tay mà giờ đã là người xa quê tìm về những kỷ niệm giữa mùa gặt hái.
Cánh đồng, đầm sen ngày mùa


Còn nhớ, vào dịp lúa đang làm đòng, cánh đồng lúa chỉ có một màu xanh mướt. Sau một đêm mưa gió sấm, chớp, dường như đã có sự đổi thay kỳ lạ. Tôi đi học qua đồng thích hà hít hương thơm ngọt lành của những bông lúa mới trổ. Tháng 5 ập đến nhanh như những cơn mưa mùa hạ, bắt đầu vào vụ Chiêm. Như các cụ ta vẫn nói, khi lúa lên đòng già, chỉ cần có sấm chớp là sẽ trổ bông ngay, khẩn trương như một đội quân xung trận: “Lúa chiêm lấp ló đầu bờ / Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên
Mùa lúa quê hương Hà Nam
Cánh đồng lúa vàng như bức gấm khổng lồ dệt từ những hạt lúa vàng căng, mẩy. Được mùa, người xuống đồng đi gặt tiếng nói cười cũng rộn rã vang xa. Hạt lúa là lộc trời mẩy, là ước mơ, hay chính là giọi mồ hôi thánh thót rơi bao ngày đã hóa thân? Trước đó một tháng, những chiếc liềm, hái được mang đi làm sắc mà mẹ tôi thường gọi là đi đánh chấu. Niềm vui mùa gặt được nhen nhóm từ đấy.
  
Vào mùa vụ, ai cũng bận rộn và tất bật, dưới cái nắng gay gắt của ngày hè, nhưng nụ cười lúc nào cũng ở trên môi. Đây là thời điểm vui nhất của làng quê. Ruộng nhà này đang  gặt lúa thì những nơi khác đã cầy đất lên để chuẩn bị cho mùa gieo trồng phụ.
  
mua gat lua que toi! hinh anh 2
Quê hương mùa gặt (ảnh minh hoạ)

Nhớ lại ngày ấy, mùa gặt cũng là mùa vui cho lũ trẻ làng chúng tôi. Giữa tháng 5, tháng 6, tiết trời như đổ lửa, nên 5 giờ sáng là mọi người trong nhà đã bắt đầu xuống đồng. Mẹ tôi bảo“ Trời tháng năm chưa nằm đã sáng” dậy sớm, đi làm sớm để tránh mặt trời, tầm 8-9h là lúc nắng lên cao, mọi người đã gặt được khoảng ruộng lớn, phơi những bó lúa lại cho se để chiều chở về. Lúa về tới nhà thành hạt thóc phơi vàng sân gạch, thành cây rơm cao cho chú gà trống cất cao tiếng gáy đón ngày mới. Mùa gặt vui và thân thương biết nhường nào.
Theo mẹ ra đồng, tôi không chỉ để gặt lúa mà để chờ cho gần hết ruộng quây bắt được  những chú lưỡm (muỗm), châu chấu, cho vào giỏ. Cứ thế, đến giữa trưa là đủ số muỗm cho một bữa cơm thật “thịnh soạn”.
Năm tháng qua đi, làng quê đã có nhiều thay đổi, nhờ công nghệ khoa học kỹ thuật, người nông dân cũng đỡ vất vả hơn, vào lúc nông nhàn có thể làm thêm công việc khác để trang trải cuộc sống. Nhưng có lẽ  mùi riêng của rơm rạ, mùi của lúa mới, mùi của những giọt mồ hôi trên những thửa ruộng đã gắn liền với tôi từ khi sống cùng cha mẹ và sẽ là vẹn nguyên.
Tôi nhớ quê hương mình. Hà Nam yêu dấu!

Ẩm Thực Hà Nam - Bánh Cuốn Hoa Cải


Những miếng thịt nướng vàng ruộm được tuốt ra từ xiên chả còn nóng hổi, trông như những bông hoa cải. Bánh cuốn trắng tinh, thơm mùi gạo, mềm, mỏng tang và dai, nhắp trong mỡ phi hành thơm, ăn với chả. Đó là bánh cuốn chả, hay có người gọi là bánh cuốn hoa cải - đặc sản của vùng đất chiêm trũng Hà Nam.
Hà Nam là đất thuần nông nghiệp, đặc sản của vùng hầu hết là những vật phẩm từ lúa gạo, là những chắt chiu một nắng hai sương của người nông dân. Bánh cuốn là một trong số những sản phẩm như thế.
Nguyên liệu làm bánh cuốn là bột gạo tẻ. Gạo ngon khi làm bánh có độ dẻo, mịn, có thể cán thật mỏng trên tấm vải căng trên mép nồi lúc nào cũng nóng hơi. Người làm bánh cuốn đẹp, đạt yêu cầu cảm quan phải là người có tay nghề, thành thạo các thao tác từ láng bột đến gạt, lật, gỡ lớp bánh mỏng ra khỏi nồi sao cho không bị rách, không bị gấp lại và xếp lần lượt lên nhau, tạo thành một tệp.
Khi ăn, người bán hàng sẽ lật từng lớp lá bánh một cách khéo léo, các đầu ngón tay thoăn thoắt, được lớp nào, nhấp vào hũ hành khô phi mỡ vàng, rồi cắt ra thành miếng vừa ăn. Những miếng bánh óng ả, thơm gạo, thơm hành mỡ đến là hấp dẫn.
Bánh cuốn ở Hà Nam không ăn với chả quế, chả lụa mà ăn với chả thịt nướng hình hoa cải. Nướng thịt sao cho vàng, các rìa ngoài của miếng thịt se lại như những cánh hoa cũng không dễ.
Trước hết, phải lựa thịt ngon, thường là thịt nạc thăn thái mỏng, miếng vừa đủ ăn, đem ướp gia vị gồm nước mắm, tiêu, tỏi, đường, hành khô, rắc chút vừng nữa, nướng trên bếp than hoa đến khi vàng ruộm và dậy mùi thơm là được. Bánh cuốn ăn với chả nóng, nước chấm âm ấm ngọt thanh, dầm trong đó là đu đủ thái lát mỏng, ướp tỏi, đường cho chín mà vẫn giòn, thêm chút rau thơm nữa là đủ bộ.
Bánh cuốn Hà Nam có bán nhiều ở chợ Phủ Lý, trong những quán xá của  thành phố bên sông Đáy. Nơi đây đã trở nên rất quen thuộc với các thực khách từ nhiều nơi tìm về, nhất là ở khách ăn ở Hà Nội. Và, mỗi khi nhắc đến Hà Nam, là nhắc đến món ăn dân dã, mà vẫn rất hấp dẫn này - Bánh cuốn hoa cải - Bánh cuốn chả Hà Nam.

Chùa Long Đọi Sơn - Địa điểm Lý Tưởng Cho Du Khách Mùa Lễ Hội


Chùa nằm trên núi Đọi Sơn thuộc xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, Hà Nam, cách Phủ Lý khoảng 8km về phía Bắc. 
Đây là ngôi chùa cổ có nhiều nét văn hoá nghệ thuật kiến trúc tinh xảo, mang đậm dấu ấn qua các thời kỳ lịch sử. Hàng năm vào ngày 21/3 âm lịch chùa Đọi Sơn mở hội.Với vị trí địa lý thuận lợi, phong cảnh thiên nhiên đẹp, nơi đây là một điểm du lịch khá hấp dẫn. Ngôi chùa được xây dựng trên đỉnh núi, trong khuôn viên 2 hec-ta vườn rừng. Chùa quay về hướng nam, đúng như câu tục ngũ: Đầu gối núi Đọi, chân dọi Tuần Vường, phát tích đế vương, lưu truyền vạn đại.
Chùa Long Đọi Sơn (xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, Hà Nam) có tên chữ là Diên Linh tự. Chùa do Lý Thánh Tông và Vương phi Ỷ Lan chủ trì xây dựng từ năm 1054 (do tể tướng Dương Đại Gia và mời thiên sư Đàm Cứu Chỉ đến trụ trì và tham gia xây dựng)
Đến đời Lý Nhân Tông, nhà vua này tiếp tục xây dựng phát triển và xây tháp Sùng Thiện Diên Linh từ năm 1118 đến năm 1121. Chùa Long Đọi Sơn đứng vững hơn ba trăm năm.
Ngôi chùa được xây dựng trên đỉnh núi, trong khuôn viên 2 hec-ta vườn rừng. Chùa quay về hướng nam, đúng như câu tục ngữ: "Đầu gối núi Đọi, chân dọi Tuần Vường, phát tích đế vương lưu truyền vạn đại"

Chùa Long Đọi Sơn

Vị trí: Chùa nằm trên núi Đọi Sơn thuộc xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, Hà Nam, cách Phủ Lý khoảng 8km về phía Bắc. 

Ðặc điểm: Đây là ngôi chùa cổ có nhiều nét văn hoá nghệ thuật kiến trúc tinh xảo, mang đậm dấu ấn qua các thời kỳ lịch sử. Hàng năm vào ngày 21/3 âm lịch chùa Đọi Sơn mở hội.Với vị trí địa lý thuận lợi, phong cảnh thiên nhiên đẹp, nơi đây là một điểm du lịch khá hấp dẫn. Ngôi chùa được xây dựng trên đỉnh núi, trong khuôn viên 2 hec-ta vườn rừng. Chùa quay về hướng nam, đúng như câu tục ngũ: Đầu gối núi Đọi, chân dọi Tuần Vường, phát tích đế vương, lưu truyền vạn đại.
Chùa Long Đọi Sơn (xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, Hà Nam) có tên chữ là Diên Linh tự. Chùa do Lý Thánh Tông và Vương phi Ỷ Lan chủ trì xây dựng từ năm 1054 (do tể tướng Dương Đại Gia và mời thiên sư Đàm Cứu Chỉ đến trụ trì và tham gia xây dựng)
Đến đời Lý Nhân Tông, nhà vua này tiếp tục xây dựng phát triển và xây tháp Sùng Thiện Diên Linh từ năm 1118 đến năm 1121. Chùa Long Đọi Sơn đứng vững hơn ba trăm năm.
Ngôi chùa được xây dựng trên đỉnh núi, trong khuôn viên 2 hec-ta vườn rừng. Chùa quay về hướng nam, đúng như câu tục ngữ: "Đầu gối núi Đọi, chân dọi Tuần Vường, phát tích đế vương lưu truyền vạn đại"
Nhà Bia Sùng Thiện Diên Linh
Ngay cổng chính, trước tòa tam bảo là nhà bia để tấm bia Sùng Thiện Diên Linh nổi tiếng. Khi xây xong chùa và tháp, nhà vua sai Thượng thư bộ Hình Nguyễn Công Bật soạn văn bia. Văn bia nguyên có tên là Đại Việt quốc dương gia đệ tứ Sùng Thiện Diên Linh tháp bi, được viết xong ngày 6 tháng 7 năm Tân Sửu (1121). Nội dung bài văn bia chủ yếu ca ngợi công lao tài trí của Lý Nhân Tông trong việc xây dựng, kiến thiết và đánh giặc giữ nước
Đầu thế kỷ XV, khi giặc Minh xâm lược nước ta, chùa và tháp đã bị phá hủy hoàn toàn. Riêng bia Sùng Thiện Diên Linh vì không phá nổi, chúng đã lật đổ xuống bên cạnh núi. (Ảnh: Đoàn Đức Thành)
Mãi tới cuối thế kỷ XVI, vào năm 1591 đời Mạc Mậu Hợp, tức là gần 170 năm sau khi bị giặc Minh tàn phá, ngôi chùa bị bỏ phế hoàn toàn, nhân dân địa phương mới "dựng lại bia đổ, bắc lại xà nhà và những chỗ tường hư hỏng, làm cửa xây tường khiến cho sau hơn 500 năm, một nơi thắng cảnh trong chốn tùng lâm lại được mới mẻ" (Bài văn khắc mặt sau bia Sùng Thiện Diên Linh)
Vào năm Tự Đức thứ 13 (1860), chùa Đọi Sơn có sửa sang thượng điện, tiền đường, nhà tổ, siêu hương, gác chuông, nghi môn. Đến năm 1864, chùa lại tiếp tục sửa hành lang, đúc tượng Di Lặc, đúc khánh đồng và đúc khánh đá do sư tổ đời thứ 5 là Thích Chiếu Trường chủ trì xây dựng hoàn chỉnh 125 gian, từ đó trở thành trường Bắc Kỳ Phật giáo. Ngôi chùa lúc này được dựng theo kiểu nội công ngoại quốc.
Từ dưới chân núi là 373 bậc thang bằng đá xẻ đá phiến nhẵn bóng dãn khách thập phương lên chùa Long Đọi Sơn.
Từ dưới chân núi là 373 bậc thang bằng đá xẻ đá phiến nhẵn bóng dãn khách thập phương lên chùa Long Đọi Sơn. (Ảnh: Đoàn Đức Thành)
Chiếc chuông cổ được treo trong chùa Long Đọi Sơn.
Lễ hội chùa Long Đọi Sơn được tổ chức hàng năm vào ngày 21 tháng 3 âm lịch đã trở thành một nét văn hóa tín ngưỡng lâu đời của người dân xã Đọi Sơn nói riêng và huyện Duy Tiên nói chung. Với mục đích nhằm quảng bá các công trình kiến trúc tại di tích lịch sử chùa Long Đọi Sơn, đồng thời khơi dậy truyền thống văn hóa dân tộc, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân và du khách thập phương (Ảnh: Phạm Hải).
Lễ hội chùa Long Đọi Sơn được tổ chức hàng năm vào ngày 21 tháng 3 âm lịch đã trở thành một nét văn hóa tín ngưỡng lâu đời của người dân xã Đọi Sơn nói riêng và huyện Duy Tiên nói chung. Với mục đích nhằm quảng bá các công trình kiến trúc tại di tích lịch sử chùa Long Đọi Sơn, đồng thời khơi dậy truyền thống văn hóa dân tộc, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân và du khách thập phương (Ảnh: Phạm Hải).
Các di vật của chùa Long Đọi còn giữ được như tấm bia Sùng Thiện Diên Linh, 6 pho tượng Kim Cương trong 8 pho có từ ngày xưa là những hiện vật rất quý báu đối với việc nghiên cứu văn hóa nước ta cách đây gần một thiên niên kỷ (Ảnh: Phạm Hải).
Chùa Long Đọi Sơn đã trải qua nhiều lần trùng tu, bên cạnh những kiến trúc pho tượng cũ, các kiến trúc pho tượng mới cũng được sắp đặt kỳ công và giữ được nét cổ kính lâu đời của ngôi chùa. Đã gần 1.000 năm qua chùa Long Đọi Sơn cùng với Đất nước, con người Việt Nam chứng kiến bao thăng trầm của lịch sử và vẫn đứng sừng sững giữa đất trời làm rung động lòng người, thu hút khách tham quan du lịch 
Ngay cổng chính, trước tòa tam bảo là nhà bia để tấm bia Sùng Thiện Diên Linh nổi tiếng. Khi xây xong chùa và tháp, nhà vua sai Thượng thư bộ Hình Nguyễn Công Bật soạn văn bia. Văn bia nguyên có tên là Đại Việt quốc dương gia đệ tứ Sùng Thiện Diên Linh tháp bi, được viết xong ngày 6 tháng 7 năm Tân Sửu (1121). Nội dung bài văn bia chủ yếu ca ngợi công lao tài trí của Lý Nhân Tông trong việc xây dựng, kiến thiết và đánh giặc giữ nước
Đầu thế kỷ XV, khi giặc Minh xâm lược nước ta, chùa và tháp đã bị phá hủy hoàn toàn. Riêng bia Sùng Thiện Diên Linh vì không phá nổi, chúng đã lật đổ xuống bên cạnh núi. (Ảnh: Đoàn Đức Thành)
Mãi tới cuối thế kỷ XVI, vào năm 1591 đời Mạc Mậu Hợp, tức là gần 170 năm sau khi bị giặc Minh tàn phá, ngôi chùa bị bỏ phế hoàn toàn, nhân dân địa phương mới "dựng lại bia đổ, bắc lại xà nhà và những chỗ tường hư hỏng, làm cửa xây tường khiến cho sau hơn 500 năm, một nơi thắng cảnh trong chốn tùng lâm lại được mới mẻ" (Bài văn khắc mặt sau bia Sùng Thiện Diên Linh)
Vào năm Tự Đức thứ 13 (1860), chùa Đọi Sơn có sửa sang thượng điện, tiền đường, nhà tổ, siêu hương, gác chuông, nghi môn. Đến năm 1864, chùa lại tiếp tục sửa hành lang, đúc tượng Di Lặc, đúc khánh đồng và đúc khánh đá do sư tổ đời thứ 5 là Thích Chiếu Trường chủ trì xây dựng hoàn chỉnh 125 gian, từ đó trở thành trường Bắc Kỳ Phật giáo. Ngôi chùa lúc này được dựng theo kiểu nội công ngoại quốc .
Từ dưới chân núi là 373 bậc thang bằng đá xẻ đá phiến nhẵn bóng dãn khách thập phương lên chùa Long Đọi Sơn. (Ảnh: Đoàn Đức Thành)
Từ dưới chân núi là 373 bậc thang bằng đá xẻ đá phiến nhẵn bóng dãn khách thập phương lên chùa Long Đọi Sơn. (Ảnh:Internet)
Chiếc chuông cổ được treo trong chùa Long Đọi Sơn (Ảnh: Internet)
Lễ hội chùa Long Đọi Sơn được tổ chức hàng năm vào ngày 21 tháng 3 âm lịch đã trở thành một nét văn hóa tín ngưỡng lâu đời của người dân xã Đọi Sơn nói riêng và huyện Duy Tiên nói chung. Với mục đích nhằm quảng bá các công trình kiến trúc tại di tích lịch sử chùa Long Đọi Sơn, đồng thời khơi dậy truyền thống văn hóa dân tộc, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân và du khách thập phương (Ảnh:Internet).
Lễ hội chùa Long Đọi Sơn được tổ chức hàng năm vào ngày 21 tháng 3 âm lịch đã trở thành một nét văn hóa tín ngưỡng lâu đời của người dân xã Đọi Sơn nói riêng và huyện Duy Tiên nói chung. Với mục đích nhằm quảng bá các công trình kiến trúc tại di tích lịch sử chùa Long Đọi Sơn, đồng thời khơi dậy truyền thống văn hóa dân tộc, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân và du khách thập phương (Ảnh:Internet).
Các di vật của chùa Long Đọi còn giữ được như tấm bia Sùng Thiện Diên Linh, 6 pho tượng Kim Cương trong 8 pho có từ ngày xưa là những hiện vật rất quý báu đối với việc nghiên cứu văn hóa nước ta cách đây gần một thiên niên kỷ (Ảnh: Internet).
Chùa Long Đọi Sơn đã trải qua nhiều lần trùng tu, bên cạnh những kiến trúc pho tượng cũ, các kiến trúc pho tượng mới cũng được sắp đặt kỳ công và giữ được nét cổ kính lâu đời của ngôi chùa. Đã gần 1.000 năm qua chùa Long Đọi Sơn cùng với Đất nước, con người Việt Nam chứng kiến bao thăng trầm của lịch sử và vẫn đứng sừng sững giữa đất trời làm rung động lòng người, thu hút khách tham quan du lịch